Năng lực hành vi dân sự đầy đủ là gì? Các mức độ năng lực

Sau đây, luatdanviet.com sẽ giải thích về năng lực hành vi dân sự đầy đủ là gì và các mức độ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Anh chị cho em hỏi, thế nào là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ? Các mức độ hành vi dân sự được quy định như thế nào ạ? Rất mong anh chị giải thích giúp em về vấn đề này – Lê Thành Trung (lethan…gmail.com).

Trả lời:

1. “Năng lực hành vi dân sự đầy đủ” là gì?

Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 giải thích về năng lực hành vi dân sự như sau:

 

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

 

Bên cạnh đó, theo Điều 20 Bộ luật Dân sự:

 

1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

 

2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

 

Theo các quy định trên, trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong làm chủ nhận thức, hành vi thì người trên 18 tuổi là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình.

nang luc hanh vi dan su day du la gi

Năng lực hành vi dân sự đầy đủ là gì? (Ảnh minh họa)

2. Các mức độ năng lực hành vi dân sự quy định như thế nào?

2.1. Không có năng lực hành vi dân sự

Tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Dân sự quy định:

 

Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

 

Như vậy, vì không thể tự thực hiện giao dịch dân sự nên người dưới 06 tuổi là đối tượng không có năng lực hành vi dân sự.

2.2. Có năng lực hành vi dân sự một phần

Khoản 3, 4 điều 21 quy định như sau:

 

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

 

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện đồng ý.

 

Theo quy định trên, người từ đủ 06 tuổi đến dưới 18 tuổi không thể tự mình thực hiện tất cả các giao dịch dân sự, tự mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Vì thế, họ được coi là người có năng lực hành vi dân sự một phần.

2.3. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Điều 20 Bộ luật Dân sự quy định:

 

1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

 

2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

 

Như vậy, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2.4. Mất năng lực hành vi dân sự

Điều 22 Bộ luật Dân sự quy định về mất năng lực hành vi dân sự như sau:

 

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

 

2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

 

Theo quy định trên, người mất năng lực hành vi dân sự là người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi. Trong đó, để công nhận là mất năng lực hành vi dân sự thì phải có quyết định tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự của Tòa án.

Xem thêm: https://luatdanviet.com/dieu-kien-va-muc-huong-che-do-nghi-om-huong-nguyen-luong

2.5. Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Bộ luật Dân sự quy định về hạn chế năng lực hành vi dân sự tại Điều 24 như sau:

 

1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

 

2. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

 

3. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

 

Theo đó, người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác có thể bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan …

Sau khi được công nhận là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, việc xác lập giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải thông qua người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng.

2.6. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tại Điều 23 Bộ luật Dân sự quy định về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như sau:

 

1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

 

2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

 

Trên thực tế, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thường là những người cao tuổi, có sức khỏe thể chất và tinh thần kém.

Share:

Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on pinterest
Pinterest
Share on linkedin
LinkedIn
LUAT-SU-TRANH-TUNG-LUAT-DAN-VIET-1

Kết nối Luật Dân Việt

Nhận update thông tin pháp lý

Đăng ký để nhận thông tin pháp lý mới nhất

Tin mới

Bài viết liên quan